Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

6 NHÂN TỐ CHỦ CHỐT KHI ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH HÀNG TIÊU DÙNG



Mỗi nhà đầu tư khi đầu tư vào một ngành hay công ty nào cũng nên lưu ý đến những nhân tố chủ lực quyết định tính hấp dẫn của thương vụ đầu tư đó. Dưới đây là những yếu tố quan trọng quyết định bạn có nên đầu tư vào một công ty hoạt động trong ngành hàng tiêu dùng hay không.


1. Thương hiệu


Tài sản quan trọng nhất của một công ty tiêu dùng không phải nằm ở máy móc, đất đai của nó, hay công thức bí mật tạo nên sản phẩm, mà chính là thương hiệu. Thương hiệu mạnh là lý do giải thích vì sao ở phân khúc sản phẩm thức ăn tăng lực, mặc dù tình hình cạnh tranh ngày cang gay gắt, thương hiệu Clif Bar vẫn tiếp tục tăng trưởng mỗi năm. Đó là lý do giải thích vì sao mỗi năm có hàng tá loại nước uống tăng lực mới ra đời, nhưng Reb Bull vẫn là một tên tuổi sừng sỏ để các sản phẩm mới đau đầu cạnh tranh. Các nhà đầu tư vào các công ty tiêu dùng đều đồng tình thương hiệu là một nhân tố quan trọng khi đầu tư vào một công ty hoạt động trong ngành này, nhưng họ cảm thấy rất khó khăn định giá thương hiệu đó, đặc biệt là ở giai đoạn đầu đầu tư. Cách tốt nhất để đánh giá sức mạnh của một thương hiệu là thông qua các báo cáo nghiên cứu người tiêu dùng: Nhận thức của người dùng về một thương hiệu, và điều họ nghĩ về thương hiệu đang ở mức độ nào. Có thể đánh giá sức mạnh của thương hiệu qua một số kênh như truyền thông xã hội, thông qua lượt “Thích” (Likes) hay “Số người nói về điều này” (People talking about this) trên Facebook, hoặc đánh giá của người dùng, bài bình luận trên Amazon.com. Tất cả những nguồn như thế này là cơ sở tốt để đánh giá sức mạnh của thương hiệu.

2. Sản phẩm độc đáo

Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của thương hiệu nằm ở tính độc đáo của sản phẩm thương hiệu đó, vì ở giai đoạn sơ khai, các công ty tiêu dùng và thương hiệu của chúng thường chỉ bao gồm một hoặc hai sản phẩm. Do đó, khi đầu tư vào một công ty tiêu dùng ở giai đoạn sơ khai, điều bạn cần quan tâm là tính khác biệt của sản phẩm, lý do bạn nghĩ công ty có thể tồn tại trong ngành tiêu dùng đó. Tính khác biệt có thể nằm ở việc đóng gói, hoặc tính tiện ích, nhưng dù đi chăng nữa, cần đảm bảo tính khác biệt tồn tại.

3. Tăng trưởng doanh thu trên cùng một cửa hàng

Khi nói về tăng trưởng trong ngành sản phẩm tiêu dùng, nhà đầu tư có thể đánh giá tiềm năng tăng trưởng doanh thu của một công ty thông qua việc phân phối ở các cửa hàng mới, hoặc tăng trưởng doanh thu ở cùng một cửa hàng / tăng trưởng tỷ lệ mua lại sản phẩm. Cách tăng trưởng thứ hai có nghĩa là công ty bán được nhiều hàng hơn cho cùng một sản phẩm, ở cùng một cửa hàng, theo tháng và theo năm. Tại sao tăng trưởng ở cùng một cửa hàng lại đáng để chúng ta quan tâm? Vì nếu một công ty có tăng trưởng doanh số ở một cửa hàng giảm, điều đó có nghĩa nếu trước đây, bao bì đóng gói hấp dẫn, hay cách marketing tốt đã từng khiến khách hàng dùng thử sản phẩm, nhưng hiện nay, người tiêu dùng lại không còn chuộng sản phẩm nữa, và họ không còn mua sản phẩm nữa. Lẽ dĩ nhiên, điều này không lấy làm vui cho các công ty sản xuất sản phẩm tiêu dùng lớn.
Các sản phẩm tiêu dùng có giá trị lớn như tivi, tỷ lệ thay thế mua sản phẩm mới của người dùng thường kéo dài lâu, có khi mất rất nhiều năm. Trong khi đó, các sản phẩm tiêu dùng như đồ ăn, thức uống, các sản phẩm chăm sóc thú cưng, các sản phẩm chăm sóc cá nhân lại có vòng xoay mua mới sản phẩm chỉ mất hàng tuần hoặc hàng tháng. Điều này cho phép nhà đầu tư có cái nhìn mau mắn về khả năng tăng trưởng của công ty.


4. Biên lợi nhuận gộp (tương đối)
Biên lợi nhuận gộp là chỉ số tài chính quan trọng nhất để đánh giá khả năng xây dựng thương hiệu của một sản phẩm tiêu dùng. Vì sao vậy? Vì chúng cho thấy sau khi lấy giá bán trừ giá thành sản xuất, doanh nghiệp còn tạo ra được bao nhiêu tiền để chi cho các chi phí xây dựng thương hiệu là bán hàng và marketing. Trong khi biên lợi nhuận gộp tuyệt đối tính cho một công ty cao, nhưng nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến biên lợi nhuận gộp so sánh tương quan với ngành. Chẳng hạn, một công ty sản xuất sản phẩm chăm sóc cá nhân có biên lợi nhuận gộp là 40% – một con số khá cao, nhưng nếu mức trung bình chung của ngành là từ 50-80%, thì nhà đầu tư cũng cần xem xét lại năng lực của công ty. Nếu biên lợi nhuận gộp thấp hơn so với ngành, nhà đầu tư chỉ nên xem xét trong trường hợp công ty đó thuê gia công, và họ được lợi là không phải tốn nhiều chi phí cho việc đầu tư tài sản cố định so với công ty tự sản xuất. Nhưng cũng cần xem xét đến yếu tố bền vững nếu công ty chỉ thuê gia công như vậy, thay vì tự làm.

5. Định giá

Có 2 thước đo mỗi ngành có thể sử dụng khá phổ biến để đánh giá động lực tạo ra lợi nhuận. Một trong số đó là thông qua việc định giá. Nếu bạn trả “hớ” cho một công ty khi thâu tóm, tăng trưởng cao sẽ không giúp bạn có lợi khi bạn thoái vốn. Nhà đầu tư cần dựa vào việc định giá so sánh (comparable valuation) dựa trên những công ty hoạt động trong cùng một ngành, có giá trị vốn hóa và tiềm năng tăng trưởng tương tự, cho công ty mà họ muốn đầu tư. Một trong những chỉ số được sử dụng nhiều nhất trong định giá so sánh là EV/EBITDA (Giá trị doanh nghiệp/ Lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao). Nhà đầu tư tưởng rằng mình trả hời cho một thương vụ đầu tư vào một công ty sản xuất hàng tiêu dùng, khi giá trị doanh nghiệp gấp 7 lần EBITDA, nhưng một nhà đầu tư tiềm năng khác chỉ chấp nhận trả ở mức gấp 5 lần, đó là một vấn đề lớn.

6. Ban lãnh đạo

Thước đo thứ hai giúp xác định mức độ hấp dẫn đầu tư vào mỗi ngành là thông qua việc đánh giá khả năng của ban lãnh đạo, và điều này càng đặt biệt quan trọng đối với ngành hàng sản xuất sản phẩm tiêu dùng, khi ban lãnh đạo sẽ là người giúp khai phá sức mạnh của thương hiệu, từ đó làm lợi cho nhà đầu tư. Làm cách nào để một nhà đầu tư đánh giá khả năng của ban lãnh đạo? Đầu tiên, họ cần nhìn vào hồ sơ thành tích mà ban lãnh đạo đó đã đạt được khi so sánh với các công ty khác cùng ngành. Thêm vào đó, nhà đầu tư cần đặc biệt lưu ý đến quy mô/ giai đoạn của kinh nghiệm trước đó ở ban lãnh đạo – Nếu các thành viên trong ban lãnh đạo trước đó chỉ có kinh nghiệm làm việc ở các công ty có quy mô tầm 1 tỷ đô, sẽ rất khác nếu bây giờ họ cần phải đưa công ty đi lên khi quy mô công ty mới chỉ tầm 1 triệu đô, bởi lẽ công việc ở mỗi doanh nghiệp như thế này rất khác nhau. Ngân sách quảng cáo cho một quảng cáo truyền hình ở một công ty quy mô 1 tỷ đô có thể lớn hơn cả doanh thu của một công ty quy mô 1 triệu đô. Đặc biệt, bạn cần bảo đảm mục tiêu đầu tư của bạn cùng chí hướng với tầm nhìn của CEO, đặc biệt khi việc đầu tư của bạn chỉ là thiểu số vào công ty. Nếu CEO của công ty muốn sở hữu công ty mãi mãi, sẽ rất khó để công ty có thể niêm yết trên sàn chứng khoán và công ty gia tăng thanh khoản.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét